Mipham Rinpoche

Bảo Tháp Tưởng Niệm Ju Mipham

འཇུ་མི་ཕམ་རིན་པོ་ཆེའི་སྐུ་འཁྲུངས་ཡུལ་འཇུ་ཉུང་སྡེ་པའི་ཡ་ཆུའི་དིང་ཆུང་པདྨ་འཛུམ་པའི་ལྗོངས་དང་སྐུ་ཆུང་ངུའི་དུས་དགོང་ལུ་བདུན་གྱི་ཐོག་ནས་ངེས་ཤེས་རིན་པོ་ཆེ་སྒྲོན་མེ་རྩོམ་ས་གནས་ཁྱད་པར་ཅན །།

Ju Mipham – Hóa Thân Của Văn Thù Sư Lợi Trong Thân Người

Nơi đản sinh, thánh địa tiền hiền ‘Thung lũng Hoa sen Nở Yachu Dingchung’, Khu vực Juwa, Trung Dzachuka, Đông Tây Tạng

Mipham Jamyang Namgyal Gyatso, thường được biết đến với tên gọi Ju Mipham, sinh năm 1846 (năm Bính Ngọ thuộc vòng lục thập hoa giáp thứ 14), tại vùng du mục Dzachuka của vương quốc Derge.

Cha Ngài, Gönpo Dargye, là hậu duệ của gia tộc Ju, được cho là có nguồn gốc từ thiên giới và do đó được gọi là Lharig Ju Gönpo Dargye. Tên gọi “Ju” bắt nguồn từ chữ “trì giữ”, mang ý nghĩa “trì giữ sợi dây của chư thiên quang minh giáng hạ từ cõi trời”. Mẹ Ngài là bà Singchungma, thuộc gia tộc Mugpo Dong danh giá, và là con gái của một vị đại thần dưới triều vua Derge.

Ngài đản sinh tại một nơi gọi là ‘Thung lũng Hoa sen Nở Yachu Dingchung’, tọa lạc trên bờ sông Yalong (雅砻江 – Nhã Lung Giang) êm đềm. Địa điểm này nằm ở cửa một thung lũng nhỏ giáp sườn đồi, phía trên thung lũng sông Yalong thuộc vùng Junyung trong quận Juwa của Dzachuka.

Chú của Ngài, cư sĩ Pema Dargye (hay còn gọi là Amnye Wön Lama Pema Dargye đời thứ ba), đã ban cho Ngài danh hiệu Mipham Gyatso (tiếng Phạn là Ajita Sāgara). Trong tiếng Phạn, Ajita Sāgara có nghĩa là “Đại Dương Bất Bại” (Ajita là danh hiệu của Đức Di Lặc, nghĩa là bất bại; Sāgara là đại dương).

Thời Niên Thiếu

Tại sườn đồi thơ mộng nơi gia tộc Ju của Ngài thường đến định cư vài tháng mỗi năm, có một tảng đá được lưu giữ với tên gọi ‘Bảo Châu Rực Lửa’. Theo truyền thuyết, đây là tảng đá tiên tri đã đưa ra lời sấm truyền cho Đại thành tựu giả (Siddha) Amogha. Lời tiên tri phán rằng một bậc đại sư, một ‘Như Ý Bảo Châu’, sẽ đản sinh ngay tại chính nơi này.

Sự uyên bác của Ju Mipham đã bộc lộ từ rất sớm:

Năm 6 tuổi, Ngài bắt đầu quá trình tu học và đã học thuộc lòng cuốn Phân định Ba Giới Nguyện (Ascertaining the Three Vows) của Ngari Panchen Pema Wangyal (1487-1542) – một văn bản nền tảng phác thảo con đường Phật giáo của phái Nyingma.

Năm 7 tuổi, theo truyền thống địa phương và ghi nhận của một số học giả Tây Tạng, Ngài đã sáng tác kiệt tác thi ca triết học nổi tiếng Ngọn Đuốc Xác Quyết (Beacon of Certainty). Để tưởng nhớ học vấn và trí tuệ xuất chúng này, một bức phù điêu màu chạm nổi hình Đức Văn Thù đã được đặt giữa một vườn hoa nhỏ cạnh bảo tháp tưởng niệm, dựng ngay tại nơi Ngài đản sinh.

Năm 10 tuổi, Ngài được đánh giá là “không gặp bất kỳ trở ngại nào trong việc đọc và viết,” và bắt đầu sáng tác nhiều văn bản khác.

Sự Phát Triển Của Thánh Địa Ngày Nay

Nhờ những nhân duyên cát tường và khung cảnh tuyệt đẹp hướng ra hồ nước nhân tạo mới, nhiều học giả – hành giả đã chọn nơi đây để tu tập và dựng lên các túp lều bế quan khiêm tốn. Gần đây, hệ thống cầu thang, các cụm tiểu tháp cùng nhiều công trình khác đã được xây dựng, dẫn từ con đường ven sông Yalong lên đồi.

Nơi từng là chốn hoang vắng của khu định cư tộc Ju quanh vùng Junyung nay đã được phát triển thành Công viên Văn hóa Ju Mipham (Ju Mipham Rigne Ling). Hồ nước tại đây, được biết đến trong tiếng Trung là hồ Thái Dương (太阳湖), đã trở thành một danh lam thắng cảnh nổi tiếng với cảnh hoàng hôn ngoạn mục và các khu cắm trại tuyệt đẹp.

Con Đường Tu học và Sự Gia Trì của Đức Văn Thù

Cách đập sông khoảng 9 km dọc theo đường chính là trung tâm khu vực Juwa (Junyung), nổi bật với tu viện Ju Mohor Sangngag Chöling (宜牛寺). Đây là một chi nhánh của tu viện Nyingma Shechen và có liên kết với dòng truyền thừa Mindroling.

Lên 12 tuổi, theo truyền thống quê hương và lời khuyên của chú mình, Ju Mipham xuất gia làm Sa-di tại Tu viện Ju Mohor dưới sự hướng dẫn của Amnye Rinpoche đời thứ ba, Wön Lama Pema Dargye. Sống như một sa-di bình thường, Ngài đã nghiên cứu vô số kinh sách và luận giảng, được mọi người ca ngợi là “tiểu học giả”.

Năm 15 tuổi, Ngài chỉ mất vài ngày để nghiên cứu và thông thạo hoàn toàn cuốn Svarodaya Tantra (một văn bản cổ về chiêm tinh học Tây Tạng thuộc truyền thống Śiva) nhờ sự sùng mộ đối với Đức Văn Thù.

Sau đó, Ngài tiến vào Nagchung Ritrö – một am thất nhỏ trên sườn đồi phía tây bắc Tu viện Ju Mohor. Tại đây, Ngài dành 18 tháng thực hành pháp tu (sādhana) Đức Văn Thù Vādīsiṃha và thực hiện nghi lễ chế tạo pháp dược, đạt được những dấu hiệu thành tựu phi thường.

Tại một hốc đá cạnh túp lều bế quan hiện nay vẫn còn lưu giữ một bức phù điêu tự sinh (tự nhiên hiện ra) câu thần chú của Đức Văn Thù: OM A RA PA TSA NA DHI. Đây được coi là một dấu hiệu bên ngoài về sự gia trì của Đức Văn Thù dành cho Ngài.

Từ thời điểm đó, mọi kinh điển, mật điển hay khoa học thế tục đều được Ngài thấu hiểu ngay lập tức khi vừa nhìn thấy. Chính vị đạo sư đã nhận xét rằng Ngài không bao giờ phải trải qua hệ thống đào tạo chính thức nào ngoài việc thọ nhận các khẩu truyền. Trọn đời, Ju Mipham giữ một mối liên hệ đặc biệt với Đức Văn Thù. Các tác phẩm của Ngài thường bắt đầu bằng lời cầu thỉnh bổn tôn này. Các pháp thiền định về nhiều hóa tướng của Đức Văn Thù (bao gồm cả Đại Uy Đức Kim Cang – Yamāntaka) là cốt lõi trong thực hành thiền định của Ngài.

Trí Tuệ Uyên Bác Xuất Chúng

Khả năng thấu hiểu chớp nhoáng của Ju Mipham đã trở thành huyền thoại.

Khi thọ nhận giáo lý từ Bumsar Geshe Ngawang Jungne về tác phẩm Nhập Trung Quán Luận của Nguyệt Xứng, Ngài thưa với đạo sư rằng không cần phải giảng giải chi tiết, Ngài chỉ xin thọ nhận khẩu truyền văn bản.

Khi học cuốn Nhập Bồ Tát Hạnh với Dza Patrul Jigme Chökyi Wangpo (1808-1887), quá trình giảng dạy chỉ mất đúng 5 ngày. Từng đó là đủ để Ju Mipham thấu hiểu trọn vẹn cả từ ngữ lẫn ý nghĩa sâu xa, và Ngài đã viết một bản chú giải quan trọng cho chương thứ chín của tác phẩm này (Chương về Trí tuệ).

Khi được hỏi ai uyên bác hơn, Dza Patrul đã đáp rằng họ ngang tài ngang sức về kinh điển (sūtra), nhưng Mipham xuất sắc hơn nhiều về mật điển (tantra).

Khoảng năm 1862, khi Ju Mipham chừng 16 tuổi, quê hương của Ngài (thuộc vương quốc Derge) rơi vào hỗn loạn và bị xâm lược bởi quân đội của Nyakye Amgön Gönpo Namgyel (1799-1865). Trong thời loạn lạc, Ngài cùng người chú lánh nạn đến Golog, rồi từ đó tiếp tục chuyến hành hương về thủ đô Lhasa.

Các Bậc Thầy và Sự Tu Học

Ju Mipham đã nghiên cứu sâu rộng các kinh điển Phật giáo với nhiều vị thầy lỗi lạc nhất thời bấy giờ, tiêu biểu như Dzogchen Khenpo Pema Vajra (khoảng 1807-1884). Tuy nhiên, Ngài luôn coi bậc thầy Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892) là đạo sư chính của mình. Ngoài ra, Ngài cũng thọ nhận các giáo huấn về nền tảng của con đường Phật giáo và các ngành khoa học thông thường (như ngữ pháp) từ học giả-hành giả lừng danh Jamgon Kongtrul Yonten Gyatso (1813-1899).

Ba vị: Mipham, Kongtrul và Jamyang Khyentse sau này được tôn vinh là “Ba vị Jamgon vùng Kham”. Trong đó, “Jamgon” là một danh hiệu cao quý dành cho những bậc học giả lỗi lạc, hiện thân cho trí tuệ viên mãn.

Tương truyền rằng Ju Mipham đã phụng sự đạo sư Jamyang Khyentse Wangpo theo ba cách: bằng vật chất, bằng sự phục vụ và bằng sự tu tập. Theo lời kể của Jikme Puntsok (1933-2004), một đệ tử của Mipham, Ngài đã dâng tặng toàn bộ tài sản của mình cho thầy tới bảy lần. Ngài đã khiêm cung hầu hạ thầy mình như một thị giả bình thường, từ việc dâng cơm nước cho đến việc dọn dẹp vệ sinh. Để cúng dường thực hành của mình, Ngài đã dành phần lớn cuộc đời để nhập thất thiền định. Ngài đã dành mười ba năm nhập thất thiền định trong một hang động mang tên Rongme Chime Karmo Taktsang, tọa lạc gần tu viện Dzongsar của đạo sư Jamyang Khyentse Wangpo; rất có thể là vào những năm 1870 và 1880. Ngoài ra, Ngài cũng từng tu tập tại một hang động nằm phía trên Tu viện Dzogchen, nơi mà ngày nay được gọi tên là hang Mipham.

Hướng Dẫn Đường Đi Cho Khách Hành Hương

Nơi đản sinh của Ju Mipham Rinpoche nằm tại quận Juwa quanh vùng Junyung thuộc khu vực Dzagyü (Huyện Sershul của Dzachuka). Khách hành hương có thể đến đây theo hai cách:

  • Cách 1: Đi theo con đường địa phương từ Bức tường Mani Palge, dọc theo đường nhựa nhỏ bên bờ trái sông Yalong (người dân địa phương gọi là Sông Trăng – Moon River) khoảng 22 km về hướng tây nam. Đường sẽ dẫn đến ngã rẽ vào khu vực Arig. Thánh địa nằm gần hồ Thái Dương (太阳湖) xinh đẹp thuộc đập sông Yalong. Nơi sinh của Ngài nằm ở phía đông của hồ. Tọa độ Google Maps (Nơi đản sinh): 33.0758, 98.2996.
  • Cách 2: Đi theo tuyến đường chính G345 về hướng đông nam từ Tu viện Sershul đến Sêrxü, tiếp tục đi về hướng đông bắc đến Sông Trăng. Tại đây, đường rẽ ngoặt về phía nam. Chạy thêm 9 km từ đập sẽ gặp một ngã tư:
    • Rẽ phải: Dẫn đến Junyung và Tu viện Ju Mohor Sangngag Chöling cùng am thất nơi Ju Mipham bế quan. Tọa độ Google Maps (Tu viện Ju Mohor): 33.0203, 98.3156.
    • Rẽ trái: Băng qua sông Yalong. Thay vì tiếp tục đi thẳng G345 đến vùng đồng cỏ Arig, hãy rẽ trái đi theo con đường nhỏ ven hồ khoảng 12 km. Bãi đậu xe có lối lên cầu thang sẽ nằm ở phía bên phải.

Phần giới thiệu tóm tắt này được biên soạn dựa trên những ghi chép hành hương trước đây và đã được Namkhai Naldjor hoàn thành tại Ösal Khang của Yephel, ngày 29 tháng 3 năm 2026. Mangalam!

Đọc thêm:

  • Ghi chép cá nhân của Naldjor từ năm 2019 và 2025.
  • John W. Pettit, Mipham’s Beacon of Certainty: Illuminating the View of Dzogchen, the Great Perfection, Studies in Indian and Tibetan Buddhism. Wisdom Publications, 1999.

Tài liệu tham khảo (Tổng quan):

LEAVE A RESPONSE

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *