Hình ảnh minh họa: ‘Spirits (Metamorphosis),’ 2019-20, Tsherin Sherpa, acrylic and ink on canvas.
Tác phẩm này được soạn tác bởi Đấng Toàn Tri Ju Mipham Namgyal Gyatso/ Mipham Rinpoche; là cuộc tranh luận giữa hai nhân vật hư cấu – Thức, đại diện cho những trải nghiệm lúc tỉnh (ban ngày), và Mộng, đại diện cho những trải nghiệm trong mơ (ban đêm); có tên là:
སྒྱུ་མའི་རོལ་མོ་དགུ་འགྱུར།
Sgyu ma’i rol mo dgu ‘gyur
Bản Nhạc Huyễn Hóa Chín Điệu
Bản chất của cuộc tranh luận giữa Thức và Mộng này vốn dĩ là một màn trình diễn của ảo ảnh. Khi bạn nhìn thế gian như huyễn, tâm bạn sẽ không còn bị kẹt vào sự thật – giả, có – không. Bản thân bản văn này cũng là một huyễn thuật dùng để phá bỏ ảo tưởng. Âm nhạc thì uyển chuyển, không cứng nhắc. Nó lột tả trạng thái của một bậc chứng ngộ: nhìn vạn pháp trôi qua tai như những nốt nhạc, không bám chấp vào nốt nào.
Tại sao lại là ‘Chín Điệu’?
- Tính chất nghệ thuật
Một giai điệu đẹp là giai điệu có sự lên xuống, trầm bổng. Một bài ca có ‘Chín Điệu‘ là một bài ca có cấu trúc hoàn hảo, giàu nhạc tính và sức lay động. Tác giả dùng hình ảnh này để biến một cuộc tranh luận triết học khô khan thành một vũ điệu trí tuệ nhịp nhàng, nơi mà cái đúng – cái sai, cái thực – cái ảo không đối đầu nhau mà cùng nhảy múa để hiển lộ chân lý. - Ý nghĩa về sự biến hóa uyển chuyển
Từ ‘gyur‘ trong tiếng Tạng không chỉ là ‘nhịp’ hay ‘điệu’ nhạc, mà còn có nghĩa là thay đổi, biến hóa, dịch chuyển. ‘Chín Điệu‘ ám chỉ sự biến hóa đến mức tối đa, cực độ (số 9 là con số lớn nhất trong hàng đơn vị, tượng trưng cho sự vô hạn). Bản nhạc này mô tả sự biến hóa khôn lường của tâm thức, giữa Thức và Mộng. - Sự viên mãn và trọn vẹn
Việc gọi là “Chín Điệu” có nghĩa là bài ca này đã bao quát tất cả mọi khía cạnh của sự tranh luận, không còn sót lại một nghi ngại nào về bản chất của thực tại. - Liên hệ với các cấp độ chứng ngộ
Trong truyền thống Nyingma, hệ thống giáo pháp thường được chia thành chín thừa (thepa dgu): từ Thanh văn thừa cho đến Ati Yoga. ‘Chín Điệu‘ có thể là một cách ám chỉ ngầm rằng bài ca này chứa đựng cái tinh túy của cả chín thừa, đưa hành giả từ cái nhìn nhị nguyên thông thường đến sự chứng ngộ rốt ráo của Đại viên mãn – nơi mà mọi hiện tượng đều hòa quyện trong một khúc ca duy nhất.
Từ bản văn tiếng Tạng (đăng tại Lotsawa House), tham khảo thêm bản dịch tiếng Anh – Trung và chú thích do tổ chức Gankyil thực hiện, dịch giả ưu tiên giữ nguyên số âm tiết của mỗi câu và đặc biệt, giữ trọn vẹn những chỗ Mipham Rinpoche cố tình dùng từ ‘có’ và ‘không’, ‘giống’ và ‘không giống’. Khi bạn đọc đến đoạn sau của bản văn, Ngài dùng rất nhiều chữ ‘giống’ để hóa giải sự đối đầu gay gắt giữa ‘có’ và ‘không’. Rinpoche thật sự là Bậc Thầy Siêu Việt về ngôn từ, Đấng Văn Thù trong hóa thân người mà dịch giả vô cùng kính ngưỡng.
Nơi đây chứa đựng Khúc Ca Tranh Luận giữa Thức và Mộng, mang tên Bản Nhạc Huyễn Hóa Chín Điệu
Soạn bởi Ju Mipham Namgyal Gyatso
Om Swasti!
Lha Arya Manjushriya1!
Cúi đầu đảnh lễ, xin thuyết lời này:
Cảnh Mộng tốt lành đêm qua – là một.
Cảnh Thức đang gặp hiện tại – là hai.
Cả hai đều sinh bởi tham luyến.
Cả hai đều diệt lúc kết thúc.
Mộng chấp cảnh đêm qua là thật.
Thức chấp cảnh hiện tại là thật.
Giờ Mộng – Thức tranh luận xem ai thật.
Thức cảnh hiển hiện, huênh hoang nói: “Cảnh Mộng nhà ngươi chính là huyễn hoặc!”
Mộng cảnh biến hóa khôn lường, đáp: “Chẳng riêng gì ta, ngươi cũng huyễn hoặc!”
[Thức]: “Ta không huyễn, chân thật thường hằng. Cảnh đang hiện ra đây mới là thật.”
Mộng bèn đáp lại: “Mộng cũng có đấy, nên chẳng chắc đâu!”
[Thức]: “Mộng đó giờ không còn, nên chắc chắn!”
[Mộng]: “Thức này mai không còn, chẳng chắc đâu!”
[Thức]: “Ta thấy thật hiển nhiên, nên chắc chắn!”
[Mộng]: “Ta cũng thấy như thế, chẳng chắc đâu!”
[Thức]: “Thức lâu dài, ổn định, nên chắc chắn!”
[Mộng]: “Dài hay ngắn thì bên nào chẳng có!”2
[Thức]: “Ngươi gặp vách núi là xuyên qua ngay. Nay làm được, thì ngươi mới là thật.”
[Mộng]: “Nay hội đủ duyên thì cũng làm được.3Không có duyên, trong mộng cũng không thể.”
[Thức]: “Vẫn làm được trong Mộng chẳng cần duyên.”
[Mộng]: “Thế sao Mộng không làm được mãi mãi?”4
[Thức]: “Người thân đã khuất, ngươi có tình cảm. Không con cái, lại có sinh ra. Thức ta không có chuyện như vậy.”
[Mộng]: “Mộng ta có những chuyện như thế. Có của ngươi, có để ích gì? Con của ngươi, có để làm chi?“
[Thức]: “Người đã chết rồi lại sinh ra. Cái không lại có thể hóa hiện. Ngươi tuy có, cũng giống như không.”
[Mộng]: “Người chết của ngươi, chính ta thấy. Con ngươi không có, chính ta sinh. Ngươi tuy không, cũng giống như có.”
[Thức]: “Trong Mộng hưởng nhiều cao lương mỹ vị, giờ tỉnh cũng chẳng xua được đói khát.”
[Mộng]: “Dù giờ ngươi có ngủ trên giường êm ấm, đêm mộng mưa rơi cũng không tránh nổi.”
[Thức]: “Ngươi là ảo giác mê lầm vô nghĩa.”
[Mộng]: “Đói khát các loại cũng là mê lầm.”
[Thức]: “Khi tỉnh dậy, ta biết Mộng là giả. Còn trong mơ, sao ngươi biết Thức giả?”
[Mộng]: “Đêm xóa nhòa gốc rễ Ngày vốn giả5. Mộng lấy Thức làm nhân, danh, quả6; Nên hiểu Mộng cần cho Thức, có hại gì đâu?”
Bấy giờ, Vị Thủ Hiến Trí Tuệ7,
Phái Thẩm Phán Bát Nhã phân xử,
Ngài phán hai kẻ tranh luận như sau:
“Nếu bây giờ cứ tiếp tục tranh luận,
Thêm nhiều cũng chỉ đến thế thôi.
Ta sẽ phân định rõ cho hai ngươi:
Cả hai đều đúng, mà cũng đều sai.
Không quán sát – cảnh ai cũng thật.
Quán sát rồi lại vạch lỗi nhau.
Bản chất thì y hệt như nhau,
Dù cả hai đều không chân thật.
Nhưng Mộng, đối với sự huyễn hoặc,
Thừa nhận huyễn hoặc, thật ngay thẳng.
Thức dẫu huyễn hoặc, lại nói không,
Vẫn bám chấp, chống lại công lý.
Mộng ngốc nghếch thừa nhận lại hóa khôn.
Thức khôn ngoan ngụy biện lại hóa dại.
Bền hay không do lực nhân tập khí.8
Quả tự thân thì hai bên không khác.
Nay, Thức hãy nối gót theo sau Mộng. 9
Hợp nhất Kiến và Hạnh làm một.”
Nói đoạn, Ngài dùng sợi dây chánh niệm trói Thức lại,
Giao đầu dây cho Mộng nắm giữ.
“Đừng tranh cãi nữa, hãy thuận hòa.10
Chống đối, là mầm hoại tam thiên.
Hòa hợp, là đạo sư ba thời.
Hiểu rồi, cả hai cùng đắc lợi.”
Sau đó, cả hai Thức và Mộng,
Biết mình không khác, không có “ngươi”.
Đối đãi mọi hiện tượng bình đẳng.
Cuộc tranh luận chấm dứt từ ấy,
Cả hai gom tâm ý làm một.
Giống mà không lẫn, cả hai cùng,
Hát khúc ca huyên náo phi lý:
“Kẻ nói bọn ta ‘không giống, không giống’,
‘Giống, giống, giống, giống’, họ lầm rồi.
Cái ‘giống’ này ‘giống’ cái ‘giống’, ‘giống’ kia.
Người nói ‘giống’ đã ít, hiểu lại thưa.
Biết Thức đều ‘giống’, ‘giống’, ‘bình đẳng’, ‘bình đẳng’,
Và Mộng cũng ‘giống’, ‘giống’, không lầm lạc.
Chân lý trọng yếu, nhưng với kẻ mê,
Càng nghĩ càng thấy giống mớ bòng bong.“
“Nay, dựa theo giáo huấn của Phật Vương Huyễn Hóa11,
Đừng chỉ nói suông, hãy quán sát xem:
Niềm vui khi hai ta hòa hợp12,
Chưa ăn đã nếm được vị ngọt.
Chưa uống, vũ điệu đã đắm say.
Không sắp đặt vẫn thấy diệu cảnh.
Chẳng tinh yếu nào vĩ đại hơn đâu!
Điều ấy, tất cả hãy giữ trong tâm!”
Sau đó, cả hai hòa làm một,
Cái một lại tan vào hư không.
Sau đó, Vị Thẩm Phán Bát Nhã,
Tâu trình lên Đức Vua Trí Tuệ.
Đức Vua hoan hỷ phán quyết rằng:
“Ngươi hòa giải thật khéo léo, tuyệt thay!
Từ nay đến tận cùng hư không,
Tự tại bay như Kim Sí Điểu13.
Ngai vàng vô úy của hư không14,
Nay giao cho ngươi, hãy thọ nhận!
Nơi ấy có vườn hoa hư không15,
Mật ngọt trĩu xuống khẽ đung cây.16
Hãy cứ thọ dụng đi, thọ dụng mãi!
Sẽ không bao giờ cạn kiệt đâu!
Nơi đó, con gái của thạch nữ17,
Xinh đẹp tuyệt trần, đang vui đùa.
Ban cho ngươi nữ hoàng bất lão.
Hãy hợp nhất ái ân cùng nàng!
Nhờ niềm hỷ lạc khi hòa hợp,
Khoái lạc tầm thường trong ba cõi18,
Chỉ như bãi nôn trước cam lồ.
Khao khát chúng hoàn toàn buông xả!“
Thẩm Phán liền y giáo phụng hành.
Ngày nọ, cùng Đức Vua Trí Tuệ19,
Hòa nhập vào nhau rồi tan biến.
Đây là khúc ca ẩn dụ, kết hợp những trải nghiệm song hành.
Quán sát kỹ thì dễ hiểu, không quán sát thì chẳng dễ hiểu.
Ngẫm nghĩ thì ý nghĩa sâu xa, không ngẫm nghĩ thì ý nghĩa nông cạn.
Được viết tại vùng đất Đại Lạc bởi người mang tên “Dhih”!
Bản dịch được chuyển ngữ bởi Vakindra Mala, ngày Hai Mươi Sáu tháng Một năm Hỏa Ngọ (2026). Nguyện cho tất cả chúng sinh đều trực nhận được bản chất như mộng của vạn hữu và vượt thoát mọi khổ đau!
Chú thích:
- Kính Lễ Đấng Tôn Quý Văn Thù Sư Lợi! ↩︎
- Đối với những trải nghiệm trong khi Thức, có những thứ ngắn ngủi như tia lửa điện. Đối với những trải nghiệm trong Mộng, lại có những thứ dài lâu và ổn định. Có những người trong một giấc Mộng thấy như nhiều năm tháng đã trôi qua. ↩︎
- Trong Phật giáo và các tôn giáo khác, có những bậc thành tựu có thể thi triển các năng lực cao siêu như bay lượn, để lại dấu chân/dấu tay trên đá, hoặc đi xuyên qua núi non. ↩︎
- Lập luận ở đây là: các hiện tượng trong Mộng cũng cần những nguyên nhân và điều kiện (nhân duyên) của riêng nó. Nếu không, trải nghiệm đi xuyên núi trong giấc Mộng sẽ chẳng bao giờ xuất hiện hay mất đi. ↩︎
- Cái gốc rễ giả dối của những gì ta thấy ban ngày đã bị ban đêm che khuất (nên ta mới tưởng ban ngày là thật). ↩︎
- Mộng lấy Thức làm Nhân: Những gì ta trải nghiệm khi Thức (ban ngày) chính là nguyên liệu hoặc hạt giống để tạo nên Mộng (ban đêm). Mộng lấy Thức làm Danh: Các khái niệm, tên gọi và định nghĩa mà ta học được khi Thức được dùng để định danh cho thế giới trong Mộng. Mộng lấy Thức làm Quả: Trạng thái Mộng chính là kết quả (Quả) trổ ra từ những nghiệp nhân mà ta đã gieo trồng khi Thức. ↩︎
- Kể từ đây, văn bản sử dụng các ẩn dụ. Tại đây, Vị Thủ Hiến (Đức Vua) đại diện cho Căn Bản Trí, trí tuệ bất nhị của chư Phật, hay chính là Đức Văn Thù Sư Lợi. Vị Thẩm Phán đại diện cho Hậu Đắc Trí (trí tuệ phân biệt), vốn được khởi sinh từ Căn Bản Trí và có khả năng phân định, thấu suốt mọi sự vật hiện tượng. ↩︎
- Một hiện tượng sẽ kéo dài lâu hơn nếu tập khí (thói quen tâm thức) kéo dài lâu hơn, và sẽ ngắn ngủi hơn nếu tập khí ngắn ngủi hơn. Theo ngài Yingrik Drubpa Rinpoche, sự mê lầm của trạng thái Thức dày như những tảng băng. Sự mê lầm của Mộng lại mỏng như sương giá. Tuy nhiên, cả hai đều có bản chất tương tự như nhau. ↩︎
- Nên nhìn nhận những trải nghiệm ban ngày khi Thức như thể đó là một giấc Mộng, và duy trì cái nhìn này bằng chánh niệm. Bằng cách này, người ta sẽ giải thoát khỏi những bám chấp, khổ đau và chướng ngại. ↩︎
- Mọi khổ đau trong luân hồi căn bản đều gây ra bởi tư duy nhị nguyên, cho rằng những trải nghiệm thế gian là thật hay thực sự tồn tại (thực Có). Thay vào đó, ta nên hiểu bản chất như Mộng của vạn pháp, cho phép bản thân nhổ tận gốc mọi sự bám chấp, chấp ngã và ác nghiệp. Khi một người thực hành điều này và trở nên giác ngộ, vị đó được coi là bậc dẫn dắt thế gian xuyên suốt không-thời gian. ↩︎
- Phật Vương Huyễn Hóa chính là Đức Phật. Đức Phật dạy về bản chất huyễn ảo của vạn pháp, như đã được đề cập ở cuối Kinh Kim Cang: “Tất cả pháp hữu vi. Như mộng, huyễn, bọt, bóng. Như sương, như điện chớp. Nên quán tưởng như thế.” ↩︎
- Khổ thơ này và khổ thơ kế tiếp nói về trải nghiệm khi một người nhận ra bản chất như Mộng của thực tại. Vạn vật hiện hiện sống động nhưng lại không có một bản chất đặc cứng. ↩︎
- Kim Sí Điểu (Garuda) bay lượn vô úy và không cần nỗ lực. Bằng cách giải quyết cuộc tranh luận này, người ta trở nên giác ngộ (do đó trở nên vô úy/không sợ hãi) và có thể tự tại vận hành trong cõi luân hồi (ví dụ: bậc giác ngộ có thể chọn sinh ra ở bất cứ đâu và dưới bất kỳ hình thức nào). ↩︎
- Một bậc giác ngộ là vua của vạn pháp và không có nỗi sợ hãi nào. ↩︎
- Ở đây, “vườn hoa hư không“ ám chỉ Pháp thân (Dharmakaya), vốn vượt ngoài mọi khái niệm. Từ Pháp thân, các báo thân (Sambhogakaya) và hóa thân (Nirmanakaya) vô biên có thể hiện khởi. ↩︎
- Khổ thơ này và các khổ tiếp theo mô tả sự thị hiện không cần nỗ lực từ Pháp thân để lợi lạc chúng sinh bằng hạnh phúc tạm thời và rốt ráo. Những hoạt động này là tự nhiên, không dụng công và vô tận. ↩︎
- Tại đây, “con gái của thạch nữ” (người đàn bà hiếm muộn) biểu trưng cho tính Không. Hỷ lạc từ việc nhận ra tính Không vĩ đại (sự hợp nhất giữa Sắc và Không) là hạnh phúc tối thượng, vượt xa mọi hạnh phúc thế gian. ↩︎
- Cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. ↩︎
- Những lời của Đức Vua ở đây đại diện cho việc: thông qua sự hóa giải quan kiến xung đột giữa Thức và Mộng, một vị Bồ Tát sẽ đạt được chứng ngộ ở tầng bậc cao hơn, tiến tới quả vị Phật. ↩︎


